Nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp và cách xử trí

0

Cơn cường giáp cấp là một rối loạn nội tiết xảy ra trên người bệnh có bệnh lý cường giáp. Sau đây là nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp và cách xử trí.

Hãy cùng hutbephot78.net tham khảo nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp và cách xử trí sau đây:

  1. Cơn cường giáp cấp là gì?

Cơn cường giáp cấp được xem là tình trạng mất bù của cường giáp có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Trước đây thường gặp trong bối cảnh hậu phẫu người bệnh cường giáp, với tỉ lệ tử vong rất cao. Hiện nay, nhờ chuẩn bị tiền phẫu tốt với thuốc kháng giáp tổng hợp và Iod cũng như các phương tiện điều trị tích cực nên khi cơn xảy ra tiên lượng cho người bệnh cải thiện rất nhiều. Ngoài ra khi bạn bị mắc bệnh cường giáp đừng nên tự chữa ở nhà mà hãy đến các cơ sở y tế chuyên khoa nội tiết để có phương pháp điều trị phù hợp nhé.

  1. Nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp:

Một số các nguyên nhân được ghi nhận bao gồm:

  • Gia tăng quá mức nồng độ hormon giáp: Dựa vào các triệu chứng lâm sàng cũng như cận lâm sàng giống như trong nhiễm độc giáp.
  • Giảm nồng độ hormon giáp: Dựa vào các thay đổi trên điện tâm đồ như: Sóng T thấp hoặc T1, T2 đảo ngược hoặc PQ kéo dài, coi đó là dấu hiệu do hạ Thyroxin gây ra.
  • Rối loạn chức năng gan: Liên quan giữa suy gan nặng với cơn bão giáp. Các triệu chứng đau bụng, đi lỏng, phân nhầy máu, nói lảm nhảm, được coi là một giai đoạn của sự gia tăng nồng độ hormon giáp có thể làm cạn nguồn glycogen của gan.

nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp 1

rối loạn chức năng gan là một trong những nguyên nhân gây nên hội chứng cường giáp

  • Cơn bão giáp có thể trải qua năm giai đoạn nối tiếp nhau hết sức nhanh, tạo thành một vòng luẩn quẩn, làm nặng lẫn nhau bao gồm:

(1) Cường trương lực của hệ thống vỏ não, hạ não, tuyến yên, tuyến giáp đã có sẵn trong cường giáp.

(2) Sự tiết cấp tính và tiết quá nhiều hormon giáp sau một sang chấn tâm lý làm nặng thêm khâu trên, dẫn tới nhiễm độc hormon tại vỏ não.

(3) Cường trương lực hạ não-giao cảm với sự phóng ra các chất cường adrenergic được duy trì bởi sang chấn tâm lý. Sự tiết nhiều hormon giáp tác động xấu tới cơ tim.

(4) Suy thượng thận cấp do cạn nguồn hormon vỏ thượng thận.

(5) Suy gan cấp và nặng kết hợp cathecholamine được phóng thích làm tăng phân huỷ glycogene và làm tăng tình trạng thiếu oxy, làm nặng thêm các triệu chứng não của nhiễm độc giáp.

Những nghiên cứu gần đây ghi nhận nồng độ T4 và T3 ở người bệnh bị cơn bão giáp không cao hơn so với người bệnh cường giáp đơn thuần. Không có bằng cớ chứng tỏ bão giáp do gia tăng sản xuất Triiodothyronin.

Có bằng cớ cho thấy ở người bệnh cường giáp có sự gia tăng các điểm gắn của Catecholamin, do đó ở tổ chức cơ tim và thần kinh có sự gia tăng sự nhạy cảm đối với Catecholamin. Hơn nữa có sự giảm gắn với TBG (Thyroxin Binding Globulin) cùng với sự tăng lượng tự do FT3, FT4.

Quan điểm hiện nay cho rằng với sự gia tăng các điểm gắn của Catecholamin đi kèm với một thương tổn cấp, nhiễm trùng, hoặc sang chấn do phẫu thuật gây nên sự phóng thích Catecholamin, phối hợp với gia tăng FT4, FT3 làm xuất hiện cơn cường giáp cấp.

  1. Cách điều trị:

Đây là điều trị cấp cứu chuyên khoa vì thế người bệnh phải được nhập viện ở khoa hồi sức cấp cứu, cần nhanh chóng điều trị ngay cả khi chẩn đoán còn nghi ngờ, không đợi các kết quả xét nghiệm. Trường hợp người bệnh bị bệnh khác không phải cường giáp cấp, một liều thuốc kháng giáp ban đầu sẽ không làm nặng thêm bệnh cảnh. Người bệnh cần được điều trị nguyên nhân song song với điều trị triệu chứng:

  • Giảm tổng hợp hormon giáp.
  • Dùng thuốc ức chế tổng hợp hormon giáp.

nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp 2

 điều trị cường giáp bằng thuốc

Cơ chế tác dụng:

  • Các thuốc kháng giáp đều có tác dụng ức chế phần lớn các giai đoạn tổng hợp hormon giáp (nhất là iod hóa qua trung gian TPO của thyroglobulin để tạo thành T3 và T4).
  • Carbimazol ức chế khử iod tuyến giáp.
  • PTU ức chế biến đổi T4 thành T3 ngoại.

Dược động học:

  • Đối với nhóm Thiouracil, thời gian nửa đời khoảng 90 phút, có thể bắt đầu với liều cao chia nhiều lần, khi đạt bình giáp thì dùng liều độc nhất vào buổi sáng.
  • Đối với nhóm imidazol: thời gian nửa đời khoảng 6 giờ, do có tác dụng kháng giáp trên 24 giờ, dùng liều độc nhất vào buổi sáng.

Tác dụng phụ của thuốc xảy ra ở khoảng 5% trường hợp biểu hiện tương đối đa dạng:

  • Nhẹ: rối loạn tiêu hóa, phát ban, nổi mày đay, sốt, đau khớp, mất vị giác (agneusie), vàng da tắc mật (ngừng thuốc), tăng phosphatase kiềm.
  • Tác dụng phụ nặng như Lupus, hội chứng Lyel, rụng tóc, hội chứng thận hư, thiếu máu, đau đa khớp, đau đa rễ thần kinh, mất vị giác.
  • Giảm bạch cầu trung tính độc tính: khi bạch cầu trung tính <1200/mm3- phải ngừng thuốc nếu đe dọa chứng mất bạch cầu hạt, vì thế cần theo dõi sát.
  • Mất bạch cầu hạt (Agranulocytose): tỷ lệ 0,1% (Methimazole) và 0,5% (PTU) trường hợp, được xác định khi số lượng tế bào bạch cầu dưới 200/mm3, trên lâm sàng khó nhận biết được, cần báo trước cho người bệnh nguy cơ này để phát hiện và điều trị kịp thời. Ngừng bắt buộc thuốc kháng giáp và dùng kháng sinh ngay khi có dấu chứng này, nhất là biểu hiện nhiễm trùng, viêm họng. Điều trị mất bạch cầu hạt bằng Filgrastim (G – CSF).

Liều thuốc kháng giáp trong cơn bão giáp:

  • Propylthiouracil (PTU) 150-250mg/ đường uống mỗi 6 giờ.
  • Methimazol 20- 30mg/ đường uống mỗi 12 giờ.
  • Có thể tăng liều hoặc chia khoảng cách liều ngắn hơn;
  • Dùng đường uống hoặc cho qua sonde dạ dày hoặc hậu môn (trường hợp không uống được) methimazol 60mg/24 giờ hoặc PTU 400mg/ 6 giờ.

Theo dõi khi sử dụng thuốc kháng giáp:

  • Kiểm tra công thức bạch cầu định kỳ.
  • FT4 và TSH.
  • Kiểm tra chức năng gan.
  • Giảm phóng thích hormon giáp.

Xem thêm:

Nguyên nhân gây cơn cường giáp cấp và cách xử trí
Rate this post
Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng